Điều 646 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 qui định rõ: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Theo đó, di chúc được xem là phương tiện pháp lý để cá nhân định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Di chúc không thể là giao dịch dành cho mọi chủ thể hay một cộng đồng chủ thể.
Mặt khác, vấn đề thừa kế di sản là vấn đề pháp lý liên quan tới thân trạng và quyền lợi vật chất của một cá nhân, được tiến hành sau khi cá nhân chết. Như vậy, Điều 663 qui định di chúc chung của vợ, chồng đồng nghĩa với việc khẳng định quyền định đoạt tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Tuy nhiên, việc thừa nhận di chúc chung của vợ chồng phải xác định được tính có hiệu lực của di chúc chung, việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung, chấm dứt di chúc chung…
Thực tiễn hành nghề cho thấy, việc lập di chúc chung của vợ chồng không những củng cố tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình, mà việc qui định về di chúc chung của vợ, chồng là điều đúng pháp luật về quyền định đoạt tài sản chung của vợ chồng tạo ra sự đồng thuận nhất trí cao của đồng sở hữu chung. Điều 663 BLDS 2005 qui định: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung”. Theo đó, nội dung và mục đích của di chúc chung là để định đoạt tài sản chung của vợ, chồng. Tuy nhiên nếu Di chúc chung mà định đoạt cả phần tài sản riêng thì tính pháp lý của di chúc cần phải hết sức thận trọng xem xét bởi lẽ “Di chúc chung chỉ để định đoạt tài sản chung”.
Hình thức của di chúc chung của vợ chồng được lập theo 1 trong 2 hình thức là di miệng và di chúc viết, theo những thủ tục rất chặt chẽ. Một là, muốn lập di chúc chung, vợ - chồng phải có sự bàn bạc và thống nhất ý chí chung trước khi cùng nhau lập di chúc.
Hai là, thủ tục lập di chúc miệng trực tiếp trước mặt hai nhân chứng. Ba là, di chúc chung chỉ có hiệu lực khi cả hai người đều đã chết.
Quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung. Việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồng phải dựa trên nguyên tắc nhất trí. Khoản 2 Điều 664 BLDS 2005 qui định: “Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình”. Điều này tạo ra sự thống nhất cao cho việc lập di chúc chung cũng như việc sửa đổi, bổ sung… di chúc chung.
Điều 668 BLDS 2005 qui định: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết”. Giải pháp này đã đơn giản hóa việc thực thi di chúc chung (vì chỉ chia thừa kế theo di chúc chung một lần), so với giải pháp của BLDS 1995.
Luật sư: Lê huy Quang – Giám đốc công ty luật hợp danh Danzko – Đoàn luật sư Hà Nội.
|